Viêm loét dạ dày tá tràng là sự mất chất của niêm mạc dạ dày tá tràng, là một bệnh lý khá hay gặp, với chừng 5 - 10% dân số có viêm loét dạ dày tá tràng trong suốt cuộc đời mình và nam giới bị bệnh gấp 4 lần nữ giới viêm loét dạ dày – tá tràng có định nghĩa là mất chất của niêm mạc dạ dày – tá tràng. Đây là 1 trong một số bệnh lý hệ tiêu hóa rất thường gặp trong nước ta cũng như trên thế giới. Theo tìm hiểu, có tầm 5 - 10% dân số có loét dạ dày tá tràng ở suốt quãng đời , tỷ lệ nam giới mắc gấp 3 - 4 lần nữ giới. hội chứng chiếm 12 - 14% ở trong những căn bệnh bệnh tiêu hóa và 16% trong tổng số những ca mổ trong một năm. Bên cạnh, thông qua nội soi, người ta còn nhận biết tầm khoảng 26% bệnh nhân bị mắc viêm loét dạ dày tá tràng mà ko hề có biểu hiện gì, cũng như tầm khoảng 30 - 40% nếu không tìm thấy ổ loét tuy nhiên lại có biểu hiện đau. >>>> Tìm hiểu bệnh cắt amidan Một vài căn nguyên nào dẫn tới viêm loét dạ dày – tá tràng Loét dạ dày tá tràng là hệ quả của sự mất cần đối giữa 1 bên là tác nhân xâm nhập, phá hủy niêm mạc và 1 bên là yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày tá tràng. khi một vài thủ phạm thâm nhập dần lấn át một số nhân tố bảo vệ, niêm mạc dạ dày sẽ bị ăn mòn dần dần dẫn tới viêm. Khởi phát là viêm nông, sau đấy tiến triển tới viêm trợt rồi viêm loét. nặng nề hơn là thủng tại vết loét. một vài biểu hiện đau của người bệnh cũng vì thế mà ngày càng nặng thêm. >>>> Tìm hiểu bệnh viêm họng hạt Lí do tấn công: bao gồm axit dịch vị (HCl) và pepsin. một số tác nhân gây nên hoạt hóa thủ phạm này thâm nhập dạ dày có thể kể đến: - Sự căng thẳng thần kinh, stress dai dẳng làm cường phó giao cảm (thuộc hệ thần kinh thực vật) dẫn đến kích ứng dạ dày tăng tiếp HCl và tăng co bóp nhu động. - Sự nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylory: loại vi rút này xâm nhập vào dày qua hệ miệng, ẩn sâu dưới lớp tế bào và hủy hoại mô D trong mô dạ dày tá tràng ( loại mô tiết somatostatin có tác dụng ức chế tiết gastrine), do đó khiến tăng tiết axit HCl. căn nguyên của sự nhiễm vi rút này là vì kế hoạch ăn uống và sinh hoạt thiếu hợp lý, không điều độ, không hợp rửa. - Bị mắc những bệnh chứng về gan, thận: gan là nơi phá hoại histamin, lúc bị mắc các hội chứng về gan như xơ gan, ung thư gan, chức năng gan suy giảm làm giảm phá hủy histamin, chất này dư thừa lại kích thích dạ dày tăng tiết axit dịch vị. nếu suy thận làm nồng độ ure ở máu ao cũng có khả năng dẫn đến bệnh chứng dạ dày. Nguồn gốc bảo vệ: gồm lớp chất nhầy phủ lên mô dạ dày, bicarnonat (HCO3 -) và hàng rào mô dạ dày. Bất kỳ yếu tố nào làm suy giảm nhân tố bảo vệ đều tạo cơ hội cho thủ phạm tấn công phá hủy dạ dày. Chúng bao gồm: - Sự căng thẳng tinh thần, stress dai dẳng làm các mô nhầy ở mô dạ dày giảm tiết HCO3-. - Rượu và những thuốc giảm đau, kháng viêm NSAIDs: 2 tác nhân này có tác dụng phụ là ức chế tổng hợp prostaglandin, do đó ko các làm tăng tiết HCl mà còn làm phá huỷ mô niêm mạc dạ dày tá tràng, đồng thời khiến giảm sự hình thành niêm mạc tế bào dạ dày. - một số thuốc corticoid và dẫn xuất của nó khiến giảm glucoprotein – 1 thành phần của chất nhày, do đó suy giảm thủ phạm bảo vệ. - vì sự xơ vữa hệ mao mạch dạ dày – tá tràng: khiến ngăn sự tưới máu tới mô dạ dày – tá tràng. điều này tác động tới sự bền vững của hàng rào niêm mạc. - Sự hiện diện của vi khuẩn HP khiến sinh ra ra NH3 ngăn ngừa sự tổng hợp chất nhày, đồng thời thay đổi cấu tạo phân tử của chất nhày làm cho lớp chất nhầy rất dễ mắc phân hủy bởi pepsin. Ngoài ra HP còn tiết ra một vài men, độc tố gây tổn thương trực tiếp lên tế bào niêm mạc dạ dày. - Hút Thuốc : thuốc áp chế sự tiết HCO3- của tuyến tụy, tăng tốc sự thoát dịch vị vào tá tràng đưa đến sự nhiễm HP. Biểu hiện của loét dạ dày – tá tràng Thông thường, các triệu chứng và triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn. ở trong đợt phát triển của căn bệnh sẽ có một vài dấu hiệu đặc trưng sau: - Đau vùng thượng vị: một vài cơn đau thường hay kéo dài bằng 15 phút – 1 giờ, khu trú ở trong bên trái (nếu là loét dạ dày) hoặc phải (nếu loét tá tràng). Đau có khả năng lan rộng ra vùng hông sườn cần nên, hay có khả năng chói ra sau lưng (nếu loét trong thành sau dạ dày). thường hay xuất hiện lúc đói, ban đêm hoặc sau lúc ăn quá no. Đau nặng thêm lúc ăn phải một vài chất gây ra kích thích tế bào như thực phẩm chua, cay, nóng… Đau có đặc tính chu kỳ, quặn thắt hay nóng rát hay nặng nề râm ran. - các rối loạn tiêu hóa: hay gặp nhất là táo bón. nôn mửa, nôn ói xảy ra ở trong nếu loét dạ dày, tuy nhiên thường ít xảy ra ở trong loét tá tràng trường hợp không có tác hại. bệnh nhân có thể ăn vẫn ngon miệng tuy nhiên rất hay có cảm nhận chậm tiêu, đầy bụng hay đầy hơi, ợ chua sau các bữa ăn. Hệ lụy của loét dạ dày – tá tràng: loét dạ dày – tá tràng kéo dài có khả năng dẫn tới các hệ lụy cực kì nguy hiểm như: - chảy máu tiêu hóa: biến chứng này chiếm khoảng 25% ở trong loét dạ dày, thường hay chảy máu tại các ổ loét trong thành sau dạ dày. Biểu hiện: bệnh nhân đột nhiên có cảm nhận khó chịu, mệt muốn ngất, khát nước, đổ mồ hôi lạnh, choáng, đôi khi nôn ra máu và đi cầu ra phân đen. nếu chảy không ồ ạt, bệnh nhân chỉ có triệu chứng thiếu máu và đi cầu phân đen. - Thủng: biến chứng thủng thường gặp trong loét tá tràng. nhưng, tỷ lệ tử vong ít hơn thủng dạ dày 3 lần. Biểu hiện: bụng đau như dao đâm ở trong vùng hông sườn cần phải, sau đó xuất tình trạng thái chóang với triệu chứng viêm phúc mạc, những cơ bụng co cứng như gỗ, người bệnh buồn nôn và ko trung tiện được. trường hợp ko cấp cứu đúng lúc bệnh nhân có khả năng tử vong sau đấy 3 ngày. - hẹp môn vị: môn vị là phần nằm giữa dạ dày và tá tràng. lí do gây ra hẹp môn vị có khả năng do co thắt, viêm và phù quanh vết loét hoặc co rút do lên sẹo, viêm quanh tạng. Biểu hiện: cơn đau trở bắt buộc liên tục hơn, bệnh nhân hay buồn nôn ra món ăn hôm trước. kiểm tra bụng khi đói sẽ thấy có dấu óc ách sóng vỗ, hút dạ dày khi đói sẽ thấy các mảnh vụn món ăn. - Ung thư hóa: ít xảy ra đối với viêm loét tá tràng như có đến 90% viêm loét dạ dày bờ cong nhỏ đều có thể hóa ung thư.